C7H3.HTC

Kho tài liệu cho chuyên ngành lữ hành hướng dẫn

Thuyết minh tuyến điểm (P.4)

 

II/ TUYẾN ĐIỂM CỤ THỂ

SƠ ĐỒ TUYẾN TÂY NGUYÊN

Từ thành phố Hồ Chí Minh, chúng ta sẽ chạy ra ngã 4 Hàng Xanh thuộc quận Bình Thạnh, sau đó đi theo đường Xô Viết Nghệ Tĩnh đề đến với quốc lộ 13 để bắt đầu đến với tour Tây Nguyên. Trên đoạn đường Xô Viết Nghệ Tĩnh chúng ta sẽ đi qua bến xe Miền Đông. Đây là 1 bến xe có lưu lượng xe ra vào bến rất đông. trong tương lai thanh phố dang có kế hoạch mở rộng bến xe này vì sức chứa của bến đã quá tải. Chiếc cầu đầu tiên mà chúng ta đi qua đó là cầu Bình Triệu, qua khỏi cây cầu này chúng ta tới ngã tư cũng có tên Bình Triệu, rẽ phải thì sẽ đi Thủ Đức

Quận Thủ Đức

Quận Thủ Đức là một quận phía đông bắc Thành phố Hồ Chí Minh. Năm 1997, phía nam của Huyện Thủ Đức đã được chia thành hai quận mới là Quận 9 và Quận Thủ Đức. Quận Thủ Đức có 12 phường: Linh Đông, Linh Tây, Linh Chiểu, Linh Trung, Linh Xuân, Hiệp Bình Chánh, Hiệp Bình Phước, Tam Phú, Trường Thọ, Bình Chiểu, Bình Thọ, Tam Bình. Trên địa bàn của quận này có Ga Bình Triệu, Làng đại học Thủ Đức, Công viên nước Sài Gòn. Diện tích: 47,46 km², dân số năm 2006 hơn 250.000 người.


 

Còn rẽ trái là đi Gò vấp

Quận Gò Vấp

Quận Gò Vấp là một quận nội thành thuộc Thành phố Hồ Chí Minh. Từ những năm 80, quận Gò Vấp được xem là một quận có tốc độ đô thị hóa cao của Thành phố Hồ Chí Minh.

Quận Gò Vấp nằm ở phía Bắc và Tây Bắc Thành phố Hồ Chí Minh, Bắc giáp quận 12, nam giáp quận Phú Nhuận, Tây giáp quận 12 và quận Tân Bình, Đông giáp quận Bình Thạnh. Tổng diện tích mặt đất tự nhiên 19,76 km2 (số liệu năm 2006).

Dân số 491.122 người (số liệu năm 2006). Có 8 dân tộc anh em trong cộng đồng các dân tộc Việt Nam sống ở Gò Vấp, đa số là người Kinh.

Gò Vấp đã được khai phá từ những ngày đầu khi lưu dân Việt đi mở đất từ cuối thế kỷ XVI đầu thế kỷ XVII. Năm 1698, khi Lễ Thành Hầu Nguyễn Hữu Cảnh thừa lệnh Chúa Nguyễn Phúc Chu kinh lý miền Nam, xác lập chủ quyền cương thổ của Việt Nam ở vùng đất mới thì đất Gò Vấp đã có tên trong sổ bộ, thôn, xã thuộc huyện Tân Bình, Phủ Gia Định. Gò Vấp cách trung tâm Bến Nghé xưa (quận 1 bây giờ) khoảng 1km về phía Tây Bắc, lại nằm trên vùng đất “Gò” cao (hơn 11m so với mặt biển) có nước ngọt của sông Bến Cát – phụ lưu của sông Sài Gòn – thuận lợi canh tác và sinh hoạt, vì thế lưu dân chọn lập làng, dựng ấp, tạo dựng quê hương mới.

Quận 12

Quận 12 là một trong 19 quận nội thành của thành phố Hồ Chí Minh. Tổng diện tích đất tự nhiên 5.274,89ha, dân số hiện nay 307.449 người (/2006).

Quận 12 nằm phía bắc Thành phố Hồ Chí Minh, Phía Bắc giáp huyện Hóc Môn; phía Đông giáp tỉnh Bình Dương, Quận Thủ Đức; phía Nam giáp quận Tân Bình, Gò Vấp, Bình Thạnh; phía Tây giáp huyện Bình Tân; xã Bà Điểm.

Nằm ở cửa ngõ Tây Bắc Thành phố Hồ Chí Minh, có hệ thống đường bộ với quốc lộ 22 (nay là đường Trường Chinh), xa lộ vành đai ngoài (nay là quốc lộ 1A ), các tỉnh lộ 9, 12, 14, 15, 16, hệ thống các hương lộ này khá dày, Quận 12 có cơ sở hạ tầng thuận lợi cho phát triển kinh tế – xã hội. Quận 12 còn có sông Sài Gòn bao bọc phía đông, là đường giao thông thủy quan trọng. Trong tương lai, nơi đây sẽ có đường sắt chạy qua. Vị trí này, cảnh quan này tạo cho Quận 12 không gian thuận lợi để bố trí các khu dân cư, khu công nghiệp, thương mại – dịch vụ – du lịch để đẩy nhanh quá trình đô thị hóa, phát triển kinh tế – xã hội, hướng tới công nghiệp hóa, hiện đại hóa.

Nằm về phía Tây Bắc thành phố Hồ Chí Minh, được bao quanh một phần Quốc lộ 1A và hệ thống giao thông dày đặc và cũng là một trong những khu vực kinh tế trọng điểm, Quận 12 có vị trí và cửa ngõ giao thông khá quan trọng của thành phố nối liền với các tỉnh miền Đông Nam Bộ, có nhiều tuyến đường quan trọng đi qua địa bàn quận như quốc lộ 1A nối miền Tây, miền Đông Nam Bộ và quốc lộ 22 đi Tây Ninh. Ngoài ra, trên địa bàn Quận có một số dự án về công nghiệp, đô thị đã và đang hình thành sẽ góp phần đẩy nhanh quá trình phát triển kinh tế xã hội trên địa bàn Quận.

Chúng ta sẽ đi qua ngã 4 Bình Phước. Tại ngã 4 này được xây dựng hệ thống cầu vượt cho nên tình trạng ách tắc giao thông ở đâu được giải quyết khá tốt. Ngã tư này là điểm giao cắt giữa quốc lộ 13 và xa lộ Đại Hàn. Rẽ trái là đi An Sương và rẽ phải là đi Linh Trung.

Qua hết quận 12 là tới địa phận tỉnh Bình Dương.

Bình Dương

Diện tích: 2 696 km2

Dân số (2002): 787 600 người

Thị xã Thủ Dầu Một

Bình Dương là một tỉnh ở miền Đông Nam bộ, phía bắc giáp tỉnh Bình Phước, phía nam giáp thành phố Hồ Chí Minh, phía đông giáp tỉnh Đồng Nai, phía tây giáp tỉnh Tây Ninh. Tỉnh Bình Dương có các vùng đất đỏ trồng cao su và cà phê, vùng đất xám, nơi có đồng cỏ chăn nuôi và trồng hoa màu; vùng đồng bằng sông bồi, nơi có nhiều ruộng lúa, vườn cây ăn trái như Lái Thiêu, nổi tiếng với các loại: sầu riêng, măng cụt, chôm chôm, mít tố nữ… Các con sông lớn chảy qua địa phận tỉnh là: sông Đồng Nai, sông Sài Gòn và sông Bé với nhiều kênh rạch, sông con, cung cấp nước tưới cho đồng ruộng và tạo điều kiện cho ghe thuyền đi lại thuận tiện.

Thị xã Thủ Dầu Một nằm trên tả ngạn sông Sài Gòn, cách thành phố Hồ Chí Minh 30 km, là một vùng đất thuộc Gia Định xưa có hơn 300 năm lịch sử. Nơi đây dân cư đông đúc, có nhiều ngành nghề thủ công truyền thống nổi tiếng như gốm sứ, sơn mài, điêu khắc gỗ… Bình Dương là tỉnh thuộc vùng phát triển kinh tế trọng điểm phía nam: thành phố Hồ Chí Minh – Đồng Nai – Bà Rịa – Vũng Tàu. Giao thông của tỉnh Bình Dương khá thuận tiện, có tuyến quốc lộ 13 và quốc lộ 14 xuyên suốt tỉnh, nhiều đường liên tỉnh nối liền các vùng. Bình Dương là cửa ngõ phía bắc Sài Gòn, trước kia là vùng có chiến sự ác liệt và kéo dài trong cuộc chiến tranh với Pháp và Mỹ (nhất là ở huyện Bến Cát

Tỉnh nằm trên các trục đường giao thông quan trọng của quốc gia như quốc lộ 13, 14, tuyến đường sắt Bắc – Nam, đường xuyên Á và là đầu mối giao lưu của các tỉnh miền Trung, Tây Nguyên theo quốc lộ 13, 14 về thành phố Hồ Chí Minh.

Bình Dương nằm ở vị trí tiếp giáp giữa đồng bằng và cao nguyên. Địa hình chủ yếu là đồi trung bình và thấp, nhìn chung tương đối bằng phẳng, nền đất cao 2 – 25cm so với mực nước biển. Đây là thế đất thuận lợi cho việc xây dựng các khu công nghiệp và kết cấu hạ tầng kỹ thuật.

Bình Dương vốn là vùng đất thuộc Gia Định xưa, có nền văn hoá lâu đời với di sản âm nhạc dân gian quý giá là nhạc lễ, ca nhạc tài tử, lễ hội dân gian chùa Bà Thiên Hậu. Nơi đây còn có nhiều chùa cổ như chùa Bà Hội Khánh, chùa Núi Châu Thới, chùa Long Hưng cùng nhiều làng nghề nổi tiếng như làng sơn mài Tương Bình Hiệp và rất nhiều làng gốm sứ. Bên cạnh đó, những vườn cây trái và nhiều cảnh quan đẹp là tiền đề để hình thành các tuyến du lịch dọc sông Đồng Nai, đặc biệt là tuyến dọc sông Sài Gòn bắt đầu từ vườn trái cây nổi tiếng Lái Thiêu kéo dài lên thị xã Thủ Dầu Một đến vùng cận lòng hồ Dầu Tiếng. Ngoài ra còn có các tuyến thăm lại chiến trường xưa với những địa danh chiến khu D mà trung tâm là huyện Tân Uyên với địa đạo “tam giác sắt” ở Ba Làng An, các địa danh Phú Lợi, Bàu Bàng, Bến xúc, Lai Khê, Nhà Đỏ.

Và nền văn hoá lâu đời, nhiều chùa cổ, nhiều làng nghề truyền thống nổi tiếng, cảnh quan đẹp và nhiều di tích lịch sử, du lịch Bình Dương có nhiều điều kiện phát triển. Ngành du lịch trong những năm qua tuy chưa có bước đột phá nhưng doanh thu du lịch cũng tăng bình quân hàng năm 11,7%.

Trên đoạn đường của Bình Dương, nhìn bên tay trái là con đường đi thị trấn Lái Thiêu.

Lái Thiêu

Suốt con đường từ thị xã Thủ Dầu Một đến Lái Thiêu, đâu đâu cũng bắt gặp những lò gốm lớn, nhỏ tỏa khói suốt đêm ngày. Gốm Lái Thiêu rất đa dạng và phong phú về chủng loại, từ con lợn đất, bình cắm hoa cho đến chum, vại, chậu cảnh, chén bát…

Lái Thiêu có thời mang tên là huyện Lái Thiêu của tỉnh Bình Dương, cách thành phố Hồ Chí Minh chừng 17 km. Thời xa xưa, ở đây chỉ chuyên trồng cây ăn trái. Đến thời Pháp thuộc mới được nghiên cứu đến thổ nhưỡng và xác định, ở đây có trữ lượng đất sét rất lớn, và chất lượng sét cũng cao hơn các nơi khác ở Nam Bộ. Điều này hoàn toàn phù hợp với nghề gốm. Thêm nữa, Lái Thiêu gần Sài Gòn, thông thương tiện lợi, rất dễ dàng trong việc tiêu thụ sản phẩm. Vào khoảng năm 1867, người Hoa tìm đến đây lập nghiệp và nghề gốm cũng bắt đầu phát triển. Nhiều sử liệu địa phương còn ghi nhận, vào thời ấy, gốm Lái Thiêu xuất hiện trên thương trường và là sản phẩm chiếm địa vị độc tôn ở miền Nam nước ta. Nghề thủ công mỹ nghệ ở đây rất độc đáo, giầu bản sắc, hình thành từ rất sớm, qui tụ nhiều người có tay nghề cao, cộng với nguồn nguyên liệu dồi dào tại chỗ. Chính điều đó đã thu hút nhiều nghệ nhân tứ xứ về đây sinh sống và góp phần phát triển nghề gốm Lái Thiêu. Và tất nhiên, đã xuất hiện nhiều trường phái cạnh tranh lành mạnh trong làng gốm từ hàng trăm năm qua.

Gốm Lái Thiêu nổi tiếng từ lâu và hiện nay có mặt trên thị trường cả nước và quốc tế. Vào dịp Tết, các mặt hàng còn đa dạng và phong phú hơn nữa nhất là đồ chơi trẻ con bằng đất cùng các loại đồ dùng cho ngày Tết.

Nhìn bên phải là khu công nghiệp Việt Nam Xingapore

Khu công nghiệp Việt Nam Singapore

Khu công nghiệp Việt Nam Singapore (VSIP) là một khu công nghiệp hợp nhất trong một diện tích 500 héc ta với đầy đủ cơ sở hạ tầng và một môi trường kinh doanh hiệu quả. VSIP là một địa điểm lý tưởng cho những công ty muốn xem Việt nam là thị trường tiêu thụ nội địa cũng như thị trường xuất khẩu.

Khu công nghiệp Việt Nam – Singapore có nhà máy xử lý chất thải chung cho toàn khu theo tiêu chuẩn môi trường quốc tế và Việt Nam.

Tiếp tục đi theo quốc lộ 13 chung ta đi vào thị xã Thủ Dầu Một của tỉnh Bình Dương.

Thủ Dầu Một

Diện tích: 88 km²

Dân số: 158.000 người (2003)

• Thủ Dầu Một cách Thành phố Hồ Chí Minh khoảng 20 km về phía bắc. Trước 1975, thị xã thuộc quận Châu Thành. Trước năm 1954, thị xã là tỉnh lị tỉnh Thủ Dầu Một.

• Năm 1954 – 1975, chính quyền Việt Nam Cộng hòa đổi tên tỉnh thành Bình Dương và tỉnh lỵ mang tên Phú Cường.

• Năm 1976 đến 1996 là tỉnh lị tỉnh Sông Bé

• Ngày 1 tháng 1 năm 1997 đến nay là tỉnh lị tỉnh Bình Dương.

Nguồn gốc tên gọi, có hai giả thuyết:

Trong thế kỷ 17-18, vùng Bình Dương-Lái Thiêu là nơi định cư của nhiều dân triều Minh chạy trốn triều Thanh, phần đông làm nghề gốm, ít học vấn. Họ gọi vùng đất nầy là Thụ Dầu Mục hoặc Mục, vì vùng này có mọc nhiều cây có tên địa phương là Thù du mộc. Dân Bình Dương gọi hai loài thực vật, một cây ngắn ngày là bụp giấm (Hibiscuss abdarffa) và cây thầu dầu (Ricinus communis) bằng cùng một tên là cây Thù du. Đây là nguyên nhân có từ Thủ Dầu Một thuộc tỉnh Bình Dương.

Có giải thích khác là nơi có cây Dầu Một, là “cây dầu đứng một mình ở đầu con đường”. Không hợp cách đặt tên của miền Nam. Trường hợp này sẽ gọi là: ngã ba, ngã tư Cây Dầu, nếu có đất gò thì gọi Gò Dầu.

Thủ Dầu Một nguyên cũng nổi tiếng sản xuất hàng sơn mài gốm sứ, mây tre đan.

Ngoài ra: cơ khí lắp ráp, vật liệu xây dựng, hóa chất, cơ điện, may mặc, sản xuất đường mía, chế biến thực phẩm;

Thị xã vừa được công nhận là đô thị loại 3 vào ngày 23 tháng 1 năm 2007

Các di tích và danh thắng gồm có:

• Chùa bà Thiên Hậu Bình Dương; hội vào rằm tháng riêng âm lịch

• Khu Đại Nam thế giới du lịch;

• Chợ Thủ Dầu Một;

• Chùa Hội Khánh;

• Chùa Bà;

• Làng sơn mài Tương Bình Hiệp;

• Làng nghề gốm sứ;

• Nhà tù Phú Lợi;

• Nhà cổ tại chợ Thủ Dầu Một;

Đến với thị xã Thủ Dầu Một các bạn đừng bỏ qua dịp ghé thăm làng sơn mài Tương Bình Hiệp nhé.

Tương Bình Hiệp

Từ thị xã Thủ Dầu Một tỉnh Bình Dương, đi về phía bắc 7 km chúng ta sẽ có dịp đến thăm một làng nghề thủ công truyền thống được coi là lâu đời nhất ở đây, đó là làng nghề sơn mài Tương Bình Hiệp.

Ông tổ của nghề sơn mài là ông Trần Lương Công (Đại sứ Việt Nam ở Trung Quốc dưới đời vua Lê Nhân Tông). Nghề sơn mài được đưa từ Trung Quốc vào Việt Nam và đến Bình Dương thì nó đã tìm được chỗ đứng cho mình. Nghề này đã hình thành và phát triển ở Bình Dương khoảng gần 200 năm nay. Những nghệ nhân đầu tiên của nghề phần lớn là ở nơi khác tới. Ban đầu họ chỉ đến cư trú ở làng Bến Thế và Tương Bình Hiệp, dần dần nghề sơn mài lan rộng mãi ra và đến nay thì có mặt ở gần khắp thị xã Thủ Dầu Một. Nhưng cái nôi chính của nghề vẫn là ở làng Tương Bình Hiệp.

Đỉnh cao của sự phát triển nghề sơn mài là khoảng thời gian từ 1945 đến 1975, với sự ra đời của xưởng sản xuất Thành Lê, do hai nghệ nhân là ông Trương Văn Thành và Nguyễn Văn Lễ sáng lập. Hàng sơn mài thời này đã được xuất sang thị trường châu Âu và có giá trị thương mại lớn. Điều đó đã kích thích sự phát triển của nghề sơn mài. Hàng sơn mài thời kỳ này đã đạt đỉnh cao cả về số lượng, về sự phong phú đa dạng và chất lượng nghệ thuật.

Cho tới những năm 1985 – 1990, nghề sơn mài bắt đầu phát triển mạnh mẽ. Sản phẩm sơn mài của Tương Bình Hiệp cũng như của Thủ Dầu Một được khách hàng trong nước và ngoài nước ưa chuộng với các sản phẩm như: các bức tứ bình: Mai, lan, cúc, trúc; các bộ tranh Phúc, Lộc, Thọ; tranh đồng quê; tranh dân gian Đông Hồ cho đến các bức họa nổi tiếng như: Suối tóc, Thiếu nữ bên hoa huệ, Nụ hôn…; tranh trừu tượng và tranh chân dung các danh nhân trên thế giới.

Để sản xuất ra một sản phẩm hoàn chỉnh lại là cả một quá trình hết sức công phu, từ gỗ nguyên liệu đến khâu cuối cùng phải qua 25 công đoạn. Công việc của mỗi công đoạn đòi hỏi phải có nghệ thuật riêng, vừa tỉ mỉ lại vừa công phu. Có công đoạn làm đi làm lại tới 6 lần mới đạt yêu cầu như công đoạn hom, sơn lót. Quy trình sơn mỗi sản phẩm phải mất từ 3 – 6 tháng mới đảm bảo yêu cầu chất lượng.

Trải qua các thế hệ khác nhau, sơn mài của Tương Bình Hiệp vẫn giữ được nét đẹp truyền thống, đó là sự tinh xảo nhẹ nhàng thanh thoát, đậm đà tính cách Á Đông. Ngày nay, các cơ sở tại Tương Bình Hiệp có khả năng sản xuất khá đa dạng các sản phẩm sơn mài, từ những bức tranh nghệ thuật đến các loại tủ, bàn ghế, bình hoa lớn…

Một bên quốc lộ là làng gốm sứ Tương Bình Hiệp còn một bên là làng gốm sứ Minh Long.

Làng Gốm Sứ Minh Long

Tính đến nay, gia tộc anh Lý Ngọc Minh đã có ba đời theo nghề gốm sứ nhưng có lẽ cho đến tận bây giờ, gốm sứ Minh Long mới khẳng định tên tuổi của thương hiệu.

Đến nay, sản phẩm của gốm sứ Minh Long đã có trên 15.000 chủng loại. Chất lượng của sản phẩm đã được chứng minh khi liên tục nhiều năm liền gốm sứ Minh Long được người tiêu dùng bình chọn là “Hàng Việt Nam chất lương cao” và hàng loạt huy chương vàng tại các hội chợ triển lãm trong nước và quốc tế. Đặc biệt, gốm sứ Minh Long được tiêu thụ mạnh ở thị trường Châu Âu như Pháp, Đức, Thụy sĩ, Anh, Mỹ… bởi sự sang trọng và hiện đại, phù hợp xu thế phát triển của thế giới. Nhưng nét độc đáo của gốm sứ Minh Long lại chính là hồn Việt, là văn hoá Việt trên từng sản phẩm

Sản phẩm gốm sứ Minh Long giờ đây là niềm hãnh diện không chỉ của gia đình ông Minh, của Công ty Minh Long mà của người dân Việt khi nó đã có mặt trên khắp thế giới. Điều mà ông Minh tâm đắc nhất vẫn là việc đưa truyền thống văn hoá, hình ảnh con người, đất nước Việt Nam hiền hoà giới thiệu đến bạn bè năm châu. Chính vì vậy ông đã thẳng thừng từ chối bao lời đề nghị hấp dẫn từ các tập đoàn lớn trên thế giới về việc hợp tác sản xuất.

Đi qua thị xã Thủ Dầu Một, chúng ta sẽ đi ngang qua công viên Thủ Dầu Một, công viên nằm bên trái của quốc lộ đây là một công viên có khuôn viên khá lớn, được trồng rất nhiều cây xanh cho nên đây là một nơi phù hợp cho vui choi, thư giản, chơi thể thao…

Đi qua khỏi công viên một đoạn nhìn bên phải là đài truyền hình Bình Dương. Tiếp tục đi theo quốc lộ 13 chúng ta sẽ đi tới một ngã 4, rẽ trái thì sẽ tới chợ Thủ Dầu Một. Trên đường đi tới chợ chúng ta sẽ đi ngang qua chùa Bà

Chùa Bà

Tọa lạc ở thị xã Thủ Dầu Một, là một trong nhiều ngôi chùa của người Hoa được nhiều người biết đến, Chùa được thành lập giữa thế kỷ 19. Tuy dân gian gọi là Chùa Bà nhưng thực chất đây là ngôi miếu thờ Thiên Hậu Thánh Mẫu, vị nữ thần được cư dân châu Á thờ phụng.

Còn nếu rẽ phải thì sẽ đi Biên Hòa, trên con đường này chúng ta sẽ đi ngang qua nhà tù Phú Lợi.

Nhà Tù Phú Lợi

Nằm cách trung tâm thị xã Thủ Dầu Một khoảng 3km.

Bốn mươi năm về trước, cả nước Việt Nam sôi sục căm thù vì hành động giết người hàng loạt theo kiểu phát xít của chế độ Mỹ – Diệm tại nhà tù Phú Lợi. Cái chết bi thảm của hàng trăm tù nhân bị đầu độc đã làm chấn động dư luận thế giới.

Ngày nay khu trại giam Phú Lợi là một trong số nhà tù còn lại của chế độ Mỹ – Ngụy để làm di tích lịch sử.

Hết thị xã Thủ Dầu Một chúng ta sẽ đến huyện Tân Uyên của tỉnh Bình Dương. Gần đầu của huyện là ngã tư Sở Sao, tại đây một đường sẽ dẫn tới Hồ Dầu Tiếng.

Hồ Dầu Tiếng

Hồ Dầu Tiếng là một hồ nước nhân tạo lớn của Việt Nam. Hồ Dầu Tiếng nằm chủ yếu trên địa phận huyện Dương Minh Châu và một phần nhỏ trên địa phận huyện Tân Châu, thuộc tỉnh Tây Ninh nằm cách thị xã Tây Ninh 25 km về hướng đông, với diện tích mặt nước là 27 km², 45,6 km² đất nửa ngập nước, dung tích chứa 1,5 tỷ m³ nước.

Hồ Dầu Tiếng với 27.000ha mặt nước, 4.560ha đất bán ngập, dung tích 15 tỷ m3, mực nước dao động từ 17-24m. Trên địa bàn huyện Dương Minh Châu cách thị xã Tây Ninh hơn 25km về phía Ðông Bắc và cách thành phố Hồ Chí Minh 70km về phía Bắc.

Tại ngã 4 Sở Sao, đi theo quốc lộ 13 thì sẽ đến Chơn Thành.

Huyện Chơn Thành

Diện tích: 414,58 km².

Dân số: 53.323 người (2003)

Huyện Chơn Thành phía đông giáp huyện huyện Đồng Phú, thị xã Đồng Xoài và tỉnh Bình Dương; phía tây giáp huyện Bình Long và tỉnh Bình Dương; phía nam giáp tỉnh Bình Dương; phía bắc giáp huyện Bình Long.

Năm 1976, quận Chơn Thành trở thành huyện Chơn Thành thuộc tỉnh Sông Bé. Năm 1977, huyện Chơn Thành cùng với 2 huyện Lộc Ninh và Hớn Quản nhập lại thành huyện Bình Long. Năm 1996 huyện Bình Long thuộc tỉnh Bình Phước khi tỉnh này mới được tái lập.

Tại ngã 4 Sở Sao chúng ta không đi theo quốc lộ 13 nữa mà đi theo tỉnh lộ 741. Trước khi đến với huyện Phú Giáo, chúng ta sẽ đi qua vườn cao su. Đất ở đây trồng cây cao su cho năng suất khá cao mặc dù không bằng vùng chuyên trồng cao su ở các tỉnh Tây Nguyên. Vườn cao su có diện tích 1.781,1 ha. Trong thời kỳ thực dân Pháp qua xâm lược nước ta, chúng đã ra sức khai thác các nguồn tài nguyên của nước ta, trong đó chúng cũng lập ra các đồn điền cao su.

Huyện Phú Giáo

Tổng diện tích tự nhiên 538,61 km2; dân số 63.239 người.

Huyện Phú Giáo nằm ở phía Đông Bắc tỉnh, cách thị xã Thủ Dầu Một 45 km và tiếp giáp với tỉnh Bình Phước. .

Và cây cầu thứ 2 chúng ta sẽ đi qua có tên là cầu Sông Bé, cây cầu này thuộc huyện Phú Giáo. Chạy theo tỉnh lộ 741, hết địa phận Bình Dương chúng ta sẽ tới địa phận tỉnh Bình Phước và chúng ta sẽ đi qua huyện Đồng Phú của tỉnh.

Bình Phước

Diện tích: 6.857 km2, Dân số: 783.600 người (2004)

Bình Phước là một tỉnh thuộc vùng Đông Nam Bộ. Giáp với Campuchia ở phía bắc và tây bắc, tỉnh Bình Phước còn có địa giới tỉnh liền kề với Đăk Nông ở phía đông bắc, giáp Đồng Nai và Lâm Đồng ở phía đông. Phía nam có Tây Ninh và Bình Dương. Bình Phước trước đây cùng Bình Dương thuộc địa phận tỉnh Sông Bé.

Ở đây có các danh thắng: núi Bà Rá – Khu du lịch sinh thái Bà Rá – Thác Mơ, Trảng cỏ Bàu Lạch – Bù Đăng, Thác Voi – Bù Đăng, Thác Dakmai – Phước Long, Thác Số 4 – Bình Long, Rừng Nguyên sinh Tây Cát Tiên – Bù Đăng và Đồng Phú.

Đồng Phú

Đồng Phú là một huyện thuộc tỉnh tỉnh Bình Phướccó thị trấn Tân Phú.

Đồng Phú được thành lập vào năm 1977 sau khi sáp nhập hai huyện Đồng Xoài và Phú Giáo. Huyện lỵ của huyện lúc đó là thị trấn Đồng Xoài. Tỉnh Bình Phước lúc đó cùng với Bình Dương lập thành tỉnh Sông Bé. Sau đó, ngày 1 tháng 1 năm 1997, tỉnh Bình Phước được tái lập, thì thị trấn Đồng Xoài tách ra lập thành thị xã Đồng Xoài vào năm 1999.

Đồng Phú rộng 929,1 km² và có 58,5 nghìn nhân khẩu. Phía Tây giáp huyện Chơn Thành và thị xã Đồng Xoài, phía Bắc giáp Phước Long, phía Tây Bắc giáp Bù Đăng, phía Đông giáp Vĩnh Cửu, phía Nam giáp Phú Giáo.

Trên địa bàn huyện Đồng Phú có một phần mở rộng của vườn quốc gia Cát Tiên, có khu du lịch Suối Lam.

Tại huyện Đồng Phú, bên tay phải các bạn sẽ thấy đường dây điện 500kv. Đây là tuyến điện rất quan trọng của cả nước và nó chạy dọc theo quốc lộ 14 tới Kon Tum và sau đó qua Lào.

Hết huyện Đồng Phú chúng ta sẽ đến thị xã Đồng Xoài

Thị xã Đồng Xoài

Đồng Xoài có diện tích là 169,6 km² và dân số là 50.800 người (năm 2004).

Đồng Xoài là một địa danh nổi tiếng trong chiến tranh Việt Nam. Trận Đồng Xoài là một trận đánh do Mặt trận Dân tộc Giải phóng miền Nam Việt Nam, mà phía Hoa Kỳ và Việt Nam Cộng Hòa cũng gọi là Việt Cộng, trong thời kỳ chiến dịch Đông-Xuân năm 1965. Đây là trận lớn nhất trong giai đoạn này của Chiến tranh Việt Nam.

Qua khỏi chợ Đồng Xoài một đoạn sẽ gặp 1 ngã 4, đây là điểm giao cắt giữa tỉnh lộ 741 và quốc lộ 14. rẽ trái là đi Chơn Thành còn rẽ phải là đi Đắk Nông, còn đi thẳng là tới Phước Long

Ở ngã 4 này chúng ta sẽ rẽ phải, đi theo quốc lộ 14 dể đến với tỉnh Đắk Nông.

Quốc lộ 14

Quốc lộ 14 là con đường giao thông huyết mạch nối các tỉnh Bắc Trung Bộ với các tỉnh cao nguyên Nam Trung Bộ và các tỉnh Đông Nam Bộ. Nếu tính về chiều dài (khoảng 890 km) thì đây là quốc lộ dài thứ 2 của Việt Nam, chỉ sau quốc lộ 1A.

Quốc lộ 14 chạy qua địa phận các tỉnh Quảng Trị, Thừa Thiên-Huế, Quảng Nam, Kon Tum, Gia Lai, Đăk Lăk, Đăk Nông và Bình Phước.

• Điểm đầu: Cầu Đa Krong, huyện Đa Krong, Quảng Trị.

• Lý trình: TT.A Lưới (H.A Lưới, Thừa Thiên Huế) – TT.Prao (H.Đông Giang, Quảng Nam) – TT.Khâm Đức (H.Phước Sơn, Quảng Nam) – TT.Pleikan (H.Ngọc Hồi, Kon Tum – Thị xã Kon Tum), Kon Tum – Thành phố Pleiku, Gia Lai – Thành phố Buôn Ma Thuột, Đăk Lăk – Thị xã Gia Nghĩa, Đăk Nông – Thị xã Đồng Xoài, Bình Phước.

• Điểm cuối: TT.Chơn Thành (H.Chơn Thành, Bình Phước).

Đoạn từ cầu Đa Krong tới thị xã Kon Tum là đường bê tông nhựa, từ thị xã Kon Tum tới thị trấn Chơn Thành là đường nhựa.

Hết Đồng Xoài thì sẽ tới Đắk Nông

Đăk Nông

Đăk Nông, hay Đắc Nông, là một tỉnh của Tây Nguyên, được tách ra từ sáu huyện phía nam của tỉnh Đắk Lắk năm 2004. Phía bắc tỉnh Đăk Nông giáp Đăk Lăk, phía đông và đông nam giáp tỉnh Lâm Đồng, phía tây giáp tỉnh Bình Phước và Campuchia.

Địa bàn tỉnh Đăk Nông gần như là địa bàn tỉnh Quảng Đức thời Việt Nam Cộng hòa, có thêm huyện Cư Jút của tỉnh Đăk Lăk.

Đăk Nông nằm ở phía tây nam Trung Bộ, đoạn cuối dãy Trường Sơn, trên một vùng cao nguyên, độ cao trung bình 500 m so với mặt biển. Địa hình tương đối bằng, có bình nguyên rộng lớn với nhiều đồng cỏ trải dài về phía đông. Phía tây địa hình thấp dần, nghiêng về phía Campuchia, phía nam là miền đồng trũng có nhiều đầm hồ.

Có 3 hệ thống sông chính: sông Ba, sông Sêrêpôk (các nhánh Krông Bông, Krông Păk, Krông Ana, Krông Nô,..) và một số sông nhỏ khác, nhiều thác nước cao, thuỷ năng lớn.

Trên địa bàn tỉnh Đăk Nông có các dân tộc người Việt (Kinh), Êđê, Nùng, M’Nông, Tày cùng sinh sống.

Đăk Nông có diện tích đất canh tác màu mỡ, chủ yếu là đất bazan, thuận lợi cho trồng cây công nghiệp, đặc biệt là cà phê, cao su, hạt tiêu… Tỉnh cũng rất giàu trữ lượng khoáng sản, đặc biệt là quặng bô-xít dùng để sản xuất nhôm.

Vùng đất này có nền văn hoá cổ truyền khá đa dạng của nhiều dân tộc đậm nét truyền thống và bản sắc riêng. Nơi đây còn lưu giữ nhiều pho sử thi truyền miệng rất độc đáo như sử thi Đam San dài hàng ngàn câu. Các luật tục cổ, kiến trúc nhà sàn, nhà rông và tượng nhà mồ còn chứa bao điều bí ẩn đầy hấp dẫn.

Các loại nhạc cụ dân tộc từ lâu đời đã trở nên nổi tiếng và là niềm tự hào của cả vùng Tây Nguyên, của văn hoá dân gian Việt Nam: bộ đàn đá của người M’Nông (huyện Lăk – Đăk Lăk), bộ chiêng đá được phát hiện tại Đăk R’lâp có niên đại hàng ngàn năm về trước, đàn T’rưng, đàn Klông pút, đàn nước, kèn, sáo… Nếu đúng dịp, du khách sẽ được tham dự những lễ hội độc đáo còn nguyên chất dân gian. Trong lễ hội, cả buôn làng cầm tay nhau nhảy múa xung quanh đống lửa theo nhịp của cồng, chiêng.

Đắk Nông có các di tích, danh thắng như: Thác Diệu Thanh, Thác Ba Tầng, Thác Đăk Nông, Khu bảo tồn thiên nhiên Nam Nung, Cao nguyên Jubát, Thác Trinh Nữ, Thác Đray Sáp, Thác Gia Long, Hồ Ea Snô, Sông Krông Nô.

Đi hết Đắk Nông chúng sẽ tới Đắk Lắc với thành phố Buôn Mê Thuột. Đây là một thành phố khá lớn, có tốc độ phát triển khá cao, cơ sở vật chất hạ tầng khá hoàn thiện.

Đăk Lăk

Đăk Lăk, Darlac hay Đắc Lắc (theo tiếng Ê Đê: Đăk = nước; Lăk = hồ) là một tỉnh nằm ở trung tâm Tây Nguyên, phía bắc giáp Gia Lai, phía nam giáp Lâm Đồng, phía tây nam giáp Đăk Nông, phía đông giáp Phú Yên và Khánh Hoà, phía tây giáp Vương quốc Campuchia với đường biên giới dài 193 km.

Tỉnh lỵ của Đăk Lăk là thành phố Buôn Ma Thuột, cách Hà Nội 1.410 km và cách Thành phố Hồ Chí Minh 320 km

Đăk Lăk có diện tích tự nhiên 13.085 km², chiếm 3.9 % diện tích tự nhiên cả nước Việt Nam, Tổng dân số cuối năm 2006 ước có 1.737.376 ngườ

Là một trong những tỉnh có tiềm năng lớn về rừng với gần 1 triệu ha đất Nông, Lâm nghiệp,trong đó trên 600.000 ha có rừng, độ che phủ của rừng ở đây là 50%. Ở đây có Vườn quốc gia Yok Đôn rộng trên 115.500 ha, là khu vườn quốc gia lớn nhất Việt Nam.

Ngoài ra, Đăk Lăk còn có 4 khu Bảo tồn thiên nhiên, Rừng Đặc dụng: Vườn quốc gia Chư Yang Sin huyện Krông Bông, Khu bảo tồn thiên nhiên Nam Kar huyện Lắk và Rừng lịch sử văn hóa môi trường Hồ Lắk huyện Lắk, Khu bảo tồn thiên nhiên Ea Sô huyện EaKar mỗi khu có diện tích từ 20 đến 60 nghìn ha.

Đăk Lăk không chỉ có núi non trùng điệp với những thảm rừng đa sinh thái với hơn 3 nghìn loài cây, 93 loài thú, 197 loài chim, mà còn là cao nguyên đất đỏ phù hợp với việc phát triển cây công nghiệp dài ngày.

Môi trường này đã tạo nên trường ca Đam San, Xinh Nhã dài hàng nghìn câu truyền miệng từ bao đời nay, làm ra con chữ riêng cho người Ê Đê, người M’Nông; làm nên đàn đá, đàn t’rưng, đàn klôngpút độc đáo và làm nên biệt tài săn bắt, thuần dưỡng voi rừng của người Buôn Đôn đứng đầu Đông Nam Á. Vua voi (N’Thu K’nul, trong 110 năm của đời mình đã săn bắt và thuần dưỡng được hơn 170 con voi rừng, trong đó có con Bạch Tượng tặng vua Xiêm và R’Leo K’Nul người kế tục cũng bắt được hơn 100 con voi có 1 con Bạch tượng tặng vua Bảo Đại.

Đắk Lắk là một trong những cái nôi nuôi dưỡng Không gian văn hóa Cồng Chiêng Tây Nguyên, được UNESCO công nhận là Di sản Văn hóa phi vật thể của Nhân loại.

Đáng chú ý khi đến thăm Đắk Lắk là những ngôi nhà dài truyền thống theo huyền thoại có thể “dài như tiếng chiêng ngân” hoặc các bến nước của các buôn làng đồng bào dân tộc thiểu số tại chỗ, một nét văn hoá rất đặc trưng của vùng đất này và ấn tượng với du khách bằng những sản phẩm gia dụng như bàn, ghế và cả thuyền độc mộc đẻo từ những cây rừng lớn nguyên vẹn…

Có Lễ hội đua Voi, Lễ hội Cồng chiêng và Lễ hội Cà phê đã được nhà nước công nhận và tổ chức đều đặn hàng năm như một giá trị truyền thống.

Tiếp tục chạy trên quốc lộ 14 chúng ta sẽ đến với thành phố Buôn Mê Thuột.

Thành Phố Buôn Mê Thuột

Buôn Ma Thuột (hay Ban Mê Thuột) là thành phố tỉnh lị của tỉnh Đắk Lắk và là thành phố lớn nhất ở vùng Tây Nguyên Việt. Diện tích của thành phố khoảng 370 km², dân số 340.000 người(2006)

Buôn Ma Thuột gốc tiếng Ê Đê, nghĩa là “bản hoặc làng của Ama Thuột”, nó xuất phát từ tên gọi buôn của A ma Thuột – tên một vị tù trưởng giàu có và quyền uy nhất vùng; để rồi từ đây hình thành nên các buôn làng xung quanh, phát triển thành thành phố Buôn Ma Thuột ngày hôm nay.

Thuở xưa, đây là vùng đất của người Ê Đê Kpă với khoảng 50 nhà dài Ê Đê nằm dọc theo suối Ea Tam do tù trưởng A Ma Thuột cai quản.

Với lợi thế là trung tâm của Đắk Lắk cũng như toàn Tây Nguyên, một vị trí có tầm chiến lược về quân sự và kinh tế của cả vùng, lại nằm gọn trên một cao nguyên đất đỏ màu mỡ và bằng phẳng, năm 1904, khi tỉnh Đắk Lắk được thành lập, Buôn Ma Thuột được chọn làm cơ quan hành chính của tỉnh này thay cho Bản Đôn.

Ngày 5 tháng 6 năm 1930, Khâm sứ Trung Kỳ ra nghị định thành lập thị xã Buôn Ma Thuột.

Dưới thời Việt Nam Cộng hòa thị xã này có tên là Ban Mê Thuột.

Ngày 10 tháng 3 năm 1975, Quân đội nhân dân Việt Nam bất ngờ tiến đánh Buôn Ma Thuột, mở đầu cho chiến dịch Hồ Chí Minh, tiến tới việc đánh bại Quân lực Việt Nam Cộng hòa.

Do Buôn Ma Thuột là nơi đầu tiên người Kinh lưu lạc đến lập nghiệp để xây dựng Đăk Lăk hôm nay nên ở đây tập trung hầu hết các di tích có ý nghĩa lịch sử của Đăk Lăk như: Đình Lạc Giao, Chùa Sắc tứ Khải Đoan, Nhà đày Buôn Ma Thuột, khu Biệt điện Bảo Đại – hiện tại là Bảo tàng các dân tộc Việt Nam tại Đắk Lắk, Toà Giám mục tại Đắk Lắk.

Du khách cũng có thể đến với làng văn hoá buôn AKô Đhông, ngắm cây Kơnia cổ thụ giữa lòng thành phố sát Ngã 6 Ban Mê, thưởng thức hương vị cà phê Ban Mê…

Với vị trí trung tâm và giao thông thuận tiện Buôn Ma Thuột cũng chính là trung tâm du lịch lớn nhất của Đăk Lăk nối các điểm du lịch quan trọng trong tỉnh như Bản Đôn, Hồ Lắk, cụm thác Đray Sáp…

Hết thành phố chúng ta sẽ đi qua huyện Krông Búk với thị trấn Buôn Hồ và huyện Eahleo với thị trấn Eahleo để đến với tỉnh Gia Lai.

Gia Lai

Diện tích: 15.536,9 km²

Dân số: 1.161,7 nghìn người (năm 2006)

Gia Lai là một tỉnh miền núi – biên giới nằm ở phía bắc Tây Nguyên trên độ cao 600 – 800m so với mặt biển. Phía bắc Gia Lai giáp tỉnh Kon Tum, phía nam giáp tỉnh Đắk Lắk, phía tây giáp Cam-pu-chia với 90km là đường biên giới quốc gia, phía đông giáp các tỉnh Quảng Ngãi, Bình Định và Phú Yên.

Gia Lai là đầu nguồn của nhiều hệ thống sông đổ về miền duyên hải và Cam-pu-chia như sông Ba, sông Sê San và các con suối khác. Vùng đất Gia Lai có nhiều suối hồ, ghềnh thác, đèo và những cánh rừng nguyên sinh tạo nên những cảnh quan thiên nhiên hùng vĩ thơ mộng, mang đậm nét hoang sơ nguyên thủy của núi rừng Tây Nguyên. Đó là rừng nhiệt đới Kon Ka Kinh và Kon Cha Rang nơi có nhiều động vật quí hiếm; thác Xung Khoeng hoang dã ở huyện Chư Prông; thác Phú Cường thơ mộng ở huyện Chư Sê. Nhiều con suối đẹp như suối Đá Trắng, suối Mơ và các danh thắng khác như bến đò “Mộng” trên sông Pa, Biển Hồ (hồ Tơ Nưng) trên núi mênh mông và phẳng lặng – núi Hàm Rồng cao 1.092m mà đỉnh là miệng của một núi lửa đã tắt.

Gia Lai có truyền thống cách mạng hào hùng, có khu Tây Sơn Thượng, căn cứ địa của vua Quang Trung, là quê hương anh hùng Núp. Nhiều địa danh chiến trường xưa của Gia Lai như Pleime, Cheo Reo, La Răng đã đi vào lịch sử.

Tỉnh Gia Lai có cộng đồng nhiều dân tộc chung sống, người Kinh chiếm 52% dân số, còn lại là người Gia Rai (33,5%), Ba Na (13,7%), Giẻ Triêng, Xơ Đăng, Cơ Ho, Nhắng, Thái, Mường…

Gia Lai là một vùng đất có bề dày lịch sử với nền văn hóa cổ xưa mang bản sắc độc đáo của đồng bào các dân tộc, chủ yếu là Gia Rai và Ba Na thể hiện qua kiến trúc nhà rông, nhà sàn, nhà mồ, qua lễ hội truyền thống, qua y phục và nhạc cụ. Các lễ hội đặc sắc ở Gia Lai: lễ Pơ Thi (Bỏ Mả), lễ hội đâm trâu, múa xoang…trang phục ngày hội được trang trí hoa văn nhiều màu sắc thần bí, các điệu múa dân gian và âm thanh vang vọng của các loại nhạc cụ riêng của từng dân tộc như tù và, đàn đá, cồng chiêng… Đến Gia Lai du khách còn được xem những khu nhà mồ dân tộc với những bức tượng đủ loại và những nghi lễ còn rất hoang sơ với tôn giáo đa thần (Tô Tem) còn nhiều nét nguyên thủy.

Tỉnh có trục quốc lộ 14 nối với Quảng Nam và các tỉnh Tây Nguyên, Đông Nam Bộ; trục quốc lộ 19 nối với các tỉnh duyên hải miền Trung từ Quy Nhơn đến Pleiku và đi các tỉnh đông bắc Cam-pu-chia; quốc lộ 25 nối với Phú Yên.

Chúng ta sẽ đi qua huyện Chư Sê của tỉnh Gia Lai, thị trấn Chư Sê cũng nằm trên quốc lộ 14. Dọc theo chiều dài của huyện, hai bên đường là cây cao su và cây cà phê.

Chư Sê

Chư Sê là một huyện phía nam tỉnh Gia Lai. Chư Sê cách Pleiku 40km về phía nam. Quốc lộ 14 nối ngã ba Chư Sê với Đăk Lăk, Đăk Nông, Bình Phước, Bình Dương và thành phố Hồ Chí Minh. Từ ngã ba Chư Sê cũng có thể đi theo quốc lộ 7 (cũ, nay là quốc lộ 25) đến thành phố Tuy Hòa, tỉnh Phú Yên.

Huyện Chư Sê có diện tích tự nhiên 109.833 ha, Dân số của huyện có 117.443 người

Và chúng ta sẽ đi ngang qua Hoàng Anh Gia Lai- một tập đoàn kinh tế lớn của Việt Nam, đặc biệt nổi tiếng về sản phẩm đồ gổ xuất khẩu.

Hoàng Anh Gia Lai

Khởi nghiệp từ năm 1990 từ một phân xưởng nhỏ chuyên đóng bàn ghế cho học sinh xã Chưhdrông, Thành phố Pleiku, tỉnh Gia Lai do Ông Đoàn Nguyển Đức trực tiếp điều hành. Đến nay, Hoàng Anh Gia Lai đã đạt được bước tiến mạnh mẽ và trở thành tập đoàn tư nhân hoạt động trong nhiều lĩnh vực khác nhau. Các sản phẩm như đồ gỗ nội, ngoại thất cao cấp; đá granite ốp lát tự nhiên; mủ cao su đã có mặt hầu khắp các thị trường Châu Âu, Châu Mỹ, Châu Á, Australia, New Zealand…Các văn phòng đại diện được thiết lập tại một số nước nhằm tạo điều kiện cho khách hang có thể tiếp cận, giao dịch với tập đoàn một cách thuận tiện và nhanh chóng nhất. Bên cạnh việc duy trì và mở rộng thị trường xuất khẩu, Hoàng Anh Gia Lai Group đang phát triển thị trường trong nước bằng việc hình thành hệ thống siêu thị đồ gỗ, đá granite với qui mô lớn tại 5 trung tâm đô thị chính Hà Nội, Tp.HCM, Hải Phòng, Đà Nẵng, Cần Thơ.

Trong nhiều năm liền Hoàng Anh Gia Lai Group được đánh giá là một trong những nhà sản xuất đồ gỗ hang đầu cả nước và được người tiêu dung bình chọn “Hàng Việt Nam chất lượng cao”.

Việc sở hữu đội bóng danh tiếng Hoàng Anh Gia Lai với những thành công vang dội trong thời gian qua đã thu hút sự quan tâm của đông đảo người yêu thích bóng đá. Hình ảnh của đội bóng là công cụ xây dựng và quảng bá thương hiệu rất hiệu quả.

Đi qua khỏi Hoàng Anh Gia Lai, cũng về bên phải là núi Chư Hrong(Hàm Rồng)

Đi hết huyện Chư Sê là tới thành phố Pleiku. Một thành phố không rộng lắm nhưng khá đẹp.

Thành Phố Pleiku

Dân số 188.223 người, bao gồm 28 dân tộc đang sinh sống.

Thành phố Pleiku là đô thị phía bắc Tây Nguyên, nằm trên trục giao thông giữa quốc lộ 14, quốc lộ 19 nối thông suốt cả nước, gần ngã ba Đông Dương, nằm trên cung đường Hồ Chí Minh, và trong vùng tam giác tăng trưởng các tỉnh lân cận, cũng như các quốc gia láng giềng như Campuchia, Lào. Tổng diện tích tự nhiên là 26.166,36 ha, là trung tâm kinh tế, chính trị, văn hóa – xã hội của tỉnh Gia Lai.

Pleiku nằm trên độ cao trung bình 300m -500 m; ngã ba quốc lộ 14 và quốc lộ 19 có độ cao 785 m.

Ra khỏi trung tâm thành phố không xa, cách cầu Bà Di khoảng 200m, bên tay trái là đường vào sân bay Pleiku

Sân bay Pleiku mỗi ngày đều có chuyến bay đi thành phố Hồ Chí Minh, Đà Nẵng và Hà Nội.

Đi thẳng thêm khoảng 4 kilomet nữa, tới ngã tư Biển Hồ, rẽ phải đi thêm 2 kilomet nữa là tới hồ Hồ T’nưng

Hồ T’nưng

Hồ T’nưng, hay Biển Hồ, là một hồ nước ngọt nằm ở phía tây thành phố Pleiku, tỉnh Gia Lai. Đây là hồ nước ngọt quan trọng cấp nước cho thành phố này. Biển Hồ Tơ Nưng còn gọi là hồ Ea Nueng. Theo các nhà khoa học thì hồ T’Nưng chính là miệng núi lửa đã ngừng hoạt động từ hàng trăm triệu năm qua. Hồ có hình bầu dục, sâu 20-30 m, với diện tích 230 ha. Bờ hồ chính là miệng núi lửa nhô cao cho nên đứng từ xa vẫn trông thấy rõ. Hồ T’Nưng là một trong những hồ đẹp nhất ở Tây Nguyên, khi gió to thường có sóng lớn nên mới gọi là biển hồ. Còn người địa phương gọi là T’Nưng, có nghĩa là “biển trên núi”.

Tiếp tục đi theo quốc lộ 14, ra khỏi thành phố thì sẽ tới huyện Chư Pã. Đi qua đoạn đường này các bạn sẽ thấy 1 ngã 3, gọi là ngã 3 Gia Ly đây là con đường đi vào thủy điện Yaly, từ quốc lộ 14 chạy vào khoảng 25 cây là tới thủy điện. Trên đường đi vào thủy điện chúng ta sẽ đi ngang qua làng người Gia Rai.

Người Gia Rai

Người Gia Rai là một dân tộc thuộc hệ ngôn ngữ Nam Đảo. Dân số của dân tộc này khoảng 317.557 người. Người Gia Rai còn có các tên gọi khác là người Giơ Rai, Chơ Rai, Tơ Buăn, Hơbau, Hdrung, Chor hay Gia Lai. Họ sinh sống và cư trú chủ yếu tập trung ở tỉnh Gia Lai (90%), một bộ phận ở tỉnh Kon Tum (5%) và phía bắc tỉnh Đăk Lăk (4%).

Người Gia Rai sống chủ yếu bằng nghề trồng trọt nương rẫy; lúa tẻ là cây lương thực chính. Công cụ canh tác của người Gia Rai giản đơn, chủ yếu là con dao chặt cây, phát rừng, cái cuốc xới đất và cây gậy chọc lỗ khi tra hạt giống. Chăn nuôi trâu, bò, lợn, chó, gà phát triển. Xưa kia, người Gia Rai có đàn ngựa khá đông. Người Gia Rai còn nuôi cả voi. Đàn ông thạo đan lát các loại gùi, giỏ, đàn bà giỏi dệt khố váy, mền đắp, vải may áo cho gia đình. Săn bắn, hái lượm, đánh cá là những hoạt động kinh tế phụ khác có ý nghĩa đáng kể đối với đời sống của họ xưa và nay.

Người Gia Rai sống thành từng làng (plơi hay bôn). Trong làng ông trưởng làng cùng các bô lão có uy tín lớn và giữ vai trò điều hành mọi sinh hoạt tập thể, ai nấy đều nghe và làm theo. Mỗi làng có nhà rông cao vút.

Dân tộc Gia Rai theo truyền thống mẫu hệ, phụ nữ tự do lựa chọn người yêu và chủ động việc hôn nhân. Sau lễ cưới, chàng trai về ở nhà vợ, không được thừa kế tài sản. Trái lại, con gái lấy chồng lần lượt tách khỏi cha mẹ ra ở riêng, được phân chia một phần tài sản. Con cái đều theo họ mẹ. Ngoài xã hội, đàn ông đóng vai trò quan trọng hơn, nhưng trong nhà phụ nữ có ưu thế hơn. Ngày xưa, có tục những người cùng dòng họ (theo phía mẹ), khi chết chôn chung một hố, nay tục này đã giảm.

Nói đến dân tộc Gia Rai phải kể đến những trường ca, truyện cổ nổi tiếng như “Đăm Di đi săn”, “Xinh Nhã”… Dân tộc Gia Rai cũng độc đáo trong nghệ thuật chơi chiêng, cồng, cạnh đó là đàn T’rưng, đàn Tưng nưng, đàn Krông pút. Những nhạc cụ truyền thống này gắn liền với đời sống tinh thần của đồng bào. Người Gia Rai hầu như hát múa từ tuổi nhi đồng cho đến khi già yếu, không còn đủ sức nữa, mới chịu đứng ngoài những cuộc nhảy múa nhân dịp lễ hội tổ chức trong làng hay trong gia đình.

Có nơi ở nhà dài, có nơi làm nhà nhỏ, nhưng đều chung tập quán ở nhà sàn, đều theo truyền thống mở cửa chính nhìn về hướng Bắc

Có nét riêng trong phong cách tạo hình và trang trí. Mặc dù hoa văn trang trí cụ thể các nhóm khác nhau nhưng có thông số chung của tộc người.

Tiếp tục chạy thảng là sẽ tới thủy điện Yaly

Nhà Máy Thuỷ Điện Yaly

Nhà máy thuỷ điện Yaly là tổ hợp kỹ thuật điều hành công trình thủy điện Yali trên sông Sêsan. Nhà máy được khởi công năm 1993 và hoàn thành vào năm 2003. Địa điểm: huyện Chư Păh, tỉnh Gia Lai. Lòng hồ thuỷ điện Yaly phần lớn nằm trên địa phận huyện Sa Thầy, tỉnh Kon Tum, thuộc lưu vực sông Pô Kô và Đắk Bla, công suất thiết kế 720 MW. Mỗi năm nhà máy nộp thuế tài nguyên nước khoảng 70 tỷ đồng.

Tiếp tục đi theo quốc lộ 14, chạy khoảng 30km chúng ta sẽ tới tỉnh Kon Tum

Kon Tum

Kon Tum là tỉnh miền núi vùng cao Tây Nguyên, phía Tây giáp nước Cộng hoà Dân chủ Nhân dân Lào và Vương quốc Campuchia, với chiều dài biên giới khoảng 260 km, phía Bắc giáp tỉnh Quảng Nam; phía Đông giáp tỉnh Quảng Ngãi; phía Nam giáp tỉnh Gia Lai; có đường 14 nối với các tỉnh Tây Nguyên và Quảng Nam, đường 40 đi Atôpư (Lào). Nằm ở ngã ba Đông Dương, Kon Tum có điều kiện hình thành các cửa khẩu, mở rộng hợp tác quốc tế về phía Tây. Ngoài ra, Kon Tum có vị trí chiến lược hết sức quan trọng về quốc phòng, bảo vệ môi trường sinh thái. Kon Tum là đầu mối giao lưu kinh tế của cả vùng duyên hải miền Trung và cả nước.

Phần lớn lãnh thổ tỉnh nằm ở phía Tây dãy Trường Sơn, địa hình có hướng thấp dẫn từ Bắc tới Nam và từ Đông sang Tây. Địa hình đa dạng với gò đồi, núi, cao nguyên và vùng trũng xen kẽ nhau khá phức tạp, tạo ra những cảnh quan phong phú, đa dạng vừa mang tính đặc thù của tiểu vùng, vừa mang tính đan xen và hoà nhập, Kon Tum có độ cao trung bình từ 500 m – 700 m; phía Bắc có độ cao từ 800 m – 1.200 m; có đỉnh Ngọc Linh cao nhất với độ cao 2.596 m.

Tổng diện tích đất tự nhiên của tỉnh là 961.450 ha, với nhiều loại đất. Rừng Kon Tum phần lớn là rừng nguyên sinh có nhiều gỗ quý như: cẩm lai, dáng hương, pơ mu, thông… với diện tích đất có rừng là 621.450 ha, trữ lượng khoảng 54 triệu m3 gỗ và 2 tỷ cây tre nứa, độ che phủ của rừng đạt trên 64%. Một số lâm sản dưới tán rừng có giá trị kinh tế và dược liệu cao như: gió, sâm Ngọc Linh, sa nhân, nhựa thông, song mây, bông đót, mã tiền, vạng đắng, hoàng đắng, ngũ gia bì, hà thủ ô… Hiện tại, Kon Tum có bốn khu từng đặc dụng, đó là: khu bảo tồn thiên nhiên Chưmôrây, khu rừng đặc dụng này rất phong phú và đang dạng về số lượng chủng loại, là nơi chứa nhiều nguồn gen động, thực vật quý hiếm được ghi trong cuốn sách đỏ Việt Nam như: voi, hươu vang, cà toong, công…

Kon Tum có nhiều cảnh quan tự nhiên như hồ Ya ly, rừng thông Măng Đen, khu bãi đá thiên nhiên Km 23, thác Đắk Nung, suối nước nóng Đắk Tô và các khu rừng đặc dụng, khu bảo tồn thiên nhiên… có khả năng hình thành các khu du lịch cảnh quan, an dưỡng. Các cảnh quan sinh thái này có thể kết hợp với các di tích lịch sử cách mạng như: di tích cách mạng ngục Kon Tum, ngục Đắk Glei, di tích chiến thắng Đắk Tô – Tân Cảnh, chiến thắng Plei Kần, chiến thắng Măng Đen… các làng văn hoá truyền thống bản địa tạo thành các cung, tuyến du lịch sinh thái – nhân văn.

Kon Tum còn là nơi có nhiều cảnh quan thiên nhiên mang nét nguyên sơ, các khu rừng nguyên sinh, di tích đường mòn Hồ Chí Minh, di tích lịch sử chiến thắng Đắk Tô – Tân Cảnh, ngục Kon Tum, ngục Đắk Glei,… đây là điều kiện thuận lợi để phát triển du lịch.

Qua khỏi cầu Đắk Blà, rẽ phải chạy theo đường Nguyễn Huệ chúng ta sẽ đi qua nhà thờ Gỗ

hà Thờ Gỗ Kontum

Nằm ở nội vi thị xã, nhà thờ gỗ Kontum xây dựng năm 1913, do một linh mục người Pháp tổ chức thi công, nay đã trở thành một điểm du lịch hấp dẫn cho nhiều du khách đến vùng đất Kontum.

Nhà thờ tọa lạc trên một diện tích rộng với nhiều công trình liên hoàn khép kín: nhà thờ – nhà tiếp khách – nhà trưng bày các sản phẩm dân tộc và tôn giáo – nhà rông. Ngoài ra, trong khuôn viên nhà thờ còn có cô nhi viện – cơ sở may, dệt thổ cẩm – cơ sở mộc, thu hút hàng chục lao động làm việc từ thiện . Từ xa, Nhà thờ là một công trình kiến trúc hoàn toàn bằng gỗ làm theo kiểu Roman du khách đã có thể thấy tháp chuông nhà thờ cao sừng sững trên nền trời. Bên trong, cột và các giàn gỗ được lắp ghép khít khao. Trần nhà xây dựng bởi rui, mè tre, đất và rơm, đã hơn 80 năm trôi qua vẫn bền, đẹp. Cung thánh nhà thờ được trang trí theo hoa văn các dân tộc ít người Tây Nguyên, trang nghiêm và gần gũi.

Đến đây, du khách sẽ ngạc nhiên bởi công trình lớn, đep, điệu nghệ như vậy mà được xây dựng hoàn toàn bằng phương pháp thủ công dưới những bàn tay tài hoa của người thợ. Nhà thờ còn đẹp hơn bởi khu hoa viên có nhà rông cao vút, các bức tượng được tạo nên bằng rễ cây, mang bản sắc văn hóa riêng của đồng bào các dân tộc. Du khách có thể tham quan trong khuôn viên nhà thờ, cơ sở dệt thổ cẩm chính người dân tộc bản địa và uống rượu dâu, rượu nho do các nữ tu sỹ chế biến.

Nhà thờ gỗ Kontum ngoài giá trị về kiến trúc văn hóa, còn là nơi hấp dẫn du khách bởi các yếu tố nhân văn.

Đi khoảng 2km nũa các bạn sẽ đi qua làng người Ba Na

Làng Ba Na

Làng Ba Na là những nếp nhà sàn dựng trên nền đất hình vuông hay hình chữ nhật, cầu thang lên nhà thường là một thân cây gỗ, đục đẽo thành nhiều bậc khá công phu.

Dân tộc Ba Na là một trong ba dân tộc bản địa đông người nhất ở Tây Nguyên, họ sống nhiều nhất ở tỉnh Kon Tum. Ba Na Kon Tum là tên cộng đồng người Ba Na tập trung ở thị xã Kon Tum. Theo tiếng Ba Na thì Kon nghĩa là làng, Tum nghĩa là hồ, ao. Kon Tum là làng có nhiều ao, hồ.

Đến thăm làng Ba Na, du khách sẽ nhìn thấy những nếp nhà sàn dựng trên nền đất hình vuông hay hình chữ nhật, cầu thang lên nhà thường là một thân cây gỗ, đục đẽo thành nhiều bậc khá công phu. Người Ba Na là dân tộc đầu tiên ở Tây Nguyên biết dùng chữ viết trong đời sống và dùng trâu bò để cày ruộng. Tuy nhiên họ cũng chưa biết tổ chức cuộc sống khoa học, gạo chỉ giã đủ ăn từng ngày. Trước đây người Ba Na có truyền thống săn bắn giỏi, tới gia đình nào bạn cũng có thể nhìn thấy có vài cái nỏ bằng gỗ rất chắc.

Cũng như nhiều dân tộc khác ở Tây Nguyên, giữa sàn nhà người Ba Na là bếp lửa luôn luôn đỏ than. Bếp cũng là trung tâm sinh hoạt của mọi thành viên trong gia đình.

Ðàn ông Ba Na thường có vết sẹo ở ngực. Ðó là vết tích do họ tự gây nên bằng cách lấy lửa hoặc than hồng dí vào ngực khi trong nhà có người chết, để tỏ lòng thương tiếc người quá cố.

cách làng Ba Na không xa là chiếc cầu treo Konklor

Cầu Treo KonKlor

Cầu treo KonKlor và làng Bana thuộc địa phận làng Konklor, thị xã Kontum. Cầu nối liền hai bờ của dòng sông Đăk Bla huyền thoại. Đến đây, du khách có thể ghé thăm làng dân tộc BahNar KonKlor ở hữu ngạn dòng sông. Đó là những vườn chuối, vườn cà phê và các loại cây ăn quả.

Hết thị xã Kon Tum, tiếp tục đi trên quốc lộ 14 thêm 20km là tới huyện Đắk Hà

Đăk Hà

Đăk Hà hay Đắc Hà là một huyện thuộc tỉnh Kon Tum. Huyện Đắk Hà phía Nam giáp thị xã Kon Tum, phía Đông giáp huyện Kon Plông, phía Bắc giáp huyện Tu Mơ Rông, phia Tây giáp huyện Đắk Tô, phía Tây Nam giáp huyện Sa Thầy với ranh giới là thượng nguồn của con sông Krong Pơ Kô.

Tiếp tục đi thêm 18km nữa chúng ta sẽ tới huyện Đắk Tô

Đắk Tô

Đắk Tô là một huyện của tỉnh Kon Tum. Huyện Đắk Tô phía Tây giáp huyện Ngọc Hồi, phía Nam giáp huyện Sa Thầy, phía Đông giáp huyện Đắk Hà, phía Bắc giáp huyện Tu Mơ Rông.

Diện tích tự nhiên của Đắk Tô hiện nay là 51.570 ha. Dân số tính tới năm 2004 là 29.015 người. Thị trấn Đắk Tô, là huyện lỵ của huyện Đắk Tô, được tách ra từ xã Tân Cảnh

Huyện Đắk Tô trước năm 1978, là một huyện lớn về diện tích của tỉnh Kon Tum, nó bao gồm phần đất của 3 huyện: huyện Đắk Tô hiện nay, huyện Tu Mơ Rông và huyện Sa Thầy. Ngày 10 tháng 10 năm 1978 huyện tách thành hai huyện Đắk Tô và Sa Thầy, đều thuộc tỉnh Gia Lai – Kon Tum.

Trận Đắk Tô năm 1967, trận đánh nổi tiếng trong cuộc chiến tranh ở Việt Nam diễn ra tại một cứ điểm thuộc xã Tân Cảnh cũ, nay nằm trên địa bàn thị trấn Đắc Tô, gần quốc lộ 14.

Và sau cùng các bạn sẽ tới huyện Ngọc Hồi

Huyện Ngọc Hồi

Huyện Ngọc Hồi là huyện ngã ba biên giới, nằm ở phía Tây tỉnh Kon Tum, bên sườn phía đông dải Trường Sơn, giáp với huyện Đắk Glei ở phía Bắc, huyện Tu Mơ Rông ở phía Đông Bắc, huyện Đắc Tô ở hướng Đông Nam, huyện Sa Thầy ở hướng Nam, Lào và Campuchia ở hướng Tây.

Huyện lỵ là thị trấn Plei Kần. Quốc lộ 40 theo hướng đông tây nối cửa khẩu quốc tế Bờ Y với Plei Kần và với thị xã Kon Tum. Quốc lộ 14 theo hướng bắc nam. Huyện Ngọc Hồi rộng 824 km², gồm 7 xã và 1 thị trấn.

Huyện Ngọc Hồi được thành lập trên cơ sở chia tách 3 huyện: Đăk Glei, Sa Thầy, Đăk Tô

Phía tây vượt qua dãy Trường Sơn là đường biên giới chung với Lào dài 34 km và đường biên giới chung với Campuchia dài 13 km.

Trung tâm thị trấn Plây Kần là điểm giao nhau của trục tuyến thông thương Bắc-Nam và Đông-Tây bao gồm đường xuyên Việt mang tên Hồ Chí Minh (quốc lộ 14) và đường xuyên Đông Dương (quốc lộ 40), thông qua cửa khẩu quốc tế Bờ Y qua Lào, Campuchia, Thái Lan cho đến tận Myanma.

Tại huyện này có cửa khẩu quốc tế Bờ Y

Khu Kinh Tế Cửa Khẩu Quốc Tế Bờ Y

Khu kinh tế Cửa khẩu quốc tế Bờ Y có vị trí rất thuận lợi trong sự giao lưu phát triển với các vùng trọng điểm trong nước, các nước trong khu vực và quốc tế. Nó nằm trên ngã ba biên giới trong tam giác phát triển ba nước Việt Nam – Lào – Campuchia.

Khu kinh tế cửa khẩu quốc tế Bờ Y có diện tích 70.438 ha, bao gồm các xã Sa Loong, Bờ Y, Đắk Sú, Đắk Nông, Đắk Dục và thị trấn Plei Kần, huyện Ngọc Hồi, tỉnh Kon Tum. Phía Bắc, khu này giáp huyện Đắk Glei, phía Nam giáp huyện Sa Thầy, phía Đông giáp huyện Đắk Tô và xã Đắk Ang (huyện Ngọc Hồi), phía Tây giáp Lào và Campuchia (có chung đường biên giới với Lào 30 km, Campuchia 25 km).

Khu kinh tế cửa khẩu quốc tế Bờ Y được thành lập nhằm:

Xây dựng và phát triển Khu kinh tế cửa khẩu quốc tế Bờ Y trở thành Vùng động lực, trung tâm liên kết trên hành lang kinh tế Đông – Tây trong tam giác phát triển ba nước Việt Nam – Lào – Campuchia.

Xây dựng Khu trung tâm, Khu kinh tế cửa khẩu quốc tế Bờ Y trở thành đô thị biên giới, khai thác có hiệu quả các điều kiện về vị trí địa lý, chính trị, kinh tế, văn hoá và xã hội trong quá trình giao lưu kinh tế quốc tế để thúc đẩy phát triển kinh tế, phát huy tác dụng lan toả của Khu kinh tế cửa khẩu quốc tế Bờ Y đối với tam giác phát triển ba nước Việt Nam – Lào – Campuchia trong quá trình hội nhập.

Thúc đẩy phát triển khu vực nông thôn, biên giới và hạn chế tác động tiêu cực đến môi trường sinh thái, văn hoá, xã hội, dân tộc, trật tự an ninh quốc phòng trên cơ sở tạo được nhiều việc làm, thúc đẩy đào tạo, nâng cao dân trí và chất lượng nguồn nhân lực.

Tạo điều kiện bảo vệ chủ quyền lãnh thổ và an ninh biên giới quốc gia, giải quyết có hiệu quả các vấn đề xã hội, nâng cao đời sống vật chất và tinh thần của nhân dân, bảo đảm đoàn kết dân tộc, tăng cường mối quan hệ hợp tác hữu nghị với các quốc gia trong khu vực.

Với tour Tây Nguyên, chúng tôi hy vọng các bạn sẽ biết thêm được nhiều điều về cuộc sống, văn hóa… của con người Tây Nguyên. Vùng đất Tây Nguyên còn rất nhiều nhiều điều chưa được khám phá, bên cạnh đó nơi đây còn có những nét văn hóa phong phú của mỗi dân tộc ở đây như văn hóa cồng chiêng (đã được công nhận là di sản văn hóa thế giới), lễ hội đâm Trâu, hội ngày mùa, lễ bỏ mã… đây là những nét văn hóa rất độc đáo. Đến với đồng bào Tây Nguyên uống chút rượu cần, thưởng thức món cơm Lam, hay những đặc sản của núi rừng cũng khá thú vị. Đến với Tây Nguyên là đến với thiên nhiên cây cối với một bầu không khí trong lành hẳn bạn sẽ cảm thấy thoải mái và sẽ quên đi cái không khí nóng bức ngột ngạt chốn thành đô.

Advertisements

Single Post Navigation

Gửi bình luận

Mời bạn điền thông tin vào ô dưới đây hoặc kích vào một biểu tượng để đăng nhập:

WordPress.com Logo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản WordPress.com Đăng xuất / Thay đổi )

Twitter picture

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Twitter Đăng xuất / Thay đổi )

Facebook photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Facebook Đăng xuất / Thay đổi )

Google+ photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Google+ Đăng xuất / Thay đổi )

Connecting to %s

%d bloggers like this: