C7H3.HTC

Kho tài liệu cho chuyên ngành lữ hành hướng dẫn

Một số điều lưu ý khi vào thăm bản dân tộc

Dưới đây là một số điều lưu ý tớ thấy rất cần biết khi dân tình mình đổ sô đi phượt vùng cao .Người dân bản rất thân thiện và cởi mở .Nhưng nếu ko rõ những phong tục tập quán của họ bạn rất dễ
làm mất đi những cảm tình của dân bản dành cho bạn mà bạn đang muốn gây dựng và củng cố. Một số những lưu ý này sẽ giúp bạn trước khi bạn thực hiện hành trình du lịch đến với những miền đất bí ẩn đầy hấp dẫn:

Trên đường vào bản:

Khi vào bản, làng, vào nhà dân, nếu trên đường có cắm “lá cây xanh” hoặc cắm “cọc dấu” thì không nên vào. Vì dân làng (hoặc chủ nhà) đang kiêng người lạ đến)- Khi đã đến với dân làng (hoặc trong nhà dân) cần lưu ý những điểm sau:

Ứng xử đối với thiên nhiên:
+ Không vào khu rừng kiêng, rừng cấm;
+ Không làm mất vệ sinh nơi có nguồn nước sinh hoạt;
+ Không chặt phá cây đã được dánh dấu;
+ Không lấy măng, mộc nhĩ, tổ ong khi đã có người khác đánh dấu sở hữu;
+ Không bẻ mầm non dang mọc

Ứng đối với cộng đồng:
+ Khi vào nhà không được đi thẳng một mạch từ ( cầu thang lên nhà) đầu nhà vào bếp trong ( thường có 2 bếp, 1 bếp ngoài dành cho khách)
+ Không ngồi vào cửa móng ( cửa sổ gian tiếp khách)
+ Không ngồi ngay vào đệm ngồi khi chủ nhà chưa mời ( thường dành cho bề trên và khách quý)
+ Không ngồi dạng chân (mất lịch sự)

Khi ngồi cạnh bếp lửa:
+ Không được dùng chân đẩy củi vào bếp
+ Không được đút ngược ngọn tre, luồng, cây củi và bếp (quan niệm đẻ ngược)
+ Không nướng cơm, đồ ( xôi) vì quan niệm mất mùa

Khi đi ngủ:
+ Không nằm ngủ dọc theo đòn nóc nhà ( chỉ người chết mới được nằmn như vậy)
+ Không nên mắc màn trắng vì lộ liễu
+ Không ngủ dậy quá muộn ( và chướng)
+ Không được ngủ dưới bàn thờ

Khi tiếp xúc với dân:
+ Cần tránh gọi các từ khiếm nhã như Mèo, Mán (Nên gọi là đồng bào Mông, Dao)
+ Không nên nói quá to với cử chỉ gay gắt
+ Không tranh cãi với người già, phụ nữ và trẻ em
+ Không xoa đầu trẻ em đồng bào Mông( vì sợ mất vía)
– Khi ngồi ăn cơm cần chú ý:
+ Không ngồi ngang hàng với người già nhất trong mâm (nếu chủ nhà không mời)
+ Không ngồi trước và quay lưng vào bàn thờ
+ Không gắp đầu gà chân gà, gan gà trước khi chủ nhà mời ( thường để chung một đĩa với dụng ý để khách chứng kiến lòng thành của chủ nhà)
+ Khi ăn không nên vừa ăn vừa nói quá to

Khi vui chơi:
+ Không nên thổ lộ tình cảm thái quá với phụ nữ đã có chồng, con gái đã có người yêu, phụ nữ goá chồng
+ Khi uống rượu cần phải mời mọi người xung quanh, không nên cầm uống ngay.

Ngoài ra, còn một số điều kiêng kỵ khác trong các nghi lễ như chọn đất làm nương rẫy, chọn ngày dựng nhà, chọn ngày cưới hỏi vợ chồng, kiêng cữ khi phụ nữ mới sinh, trong nhà có người mất hay các lễ thức cúng bái khác trong sinh hoạt cộng đồng…Còn nhiều điều lưu ý nữa rất mong được mọi người chia sẻ để chuyển đi của chúng ta được vui vẻ trọn vẹn và ý nghĩa

phuot -chupy

Một số điểm cần lưu ý nhằm tăng cường kỹ năng công tác ở vùng đồng bào dân tộc thiểu số

Nước ta có 53 dân tộc thiểu số, mỗi dân tộc dù số dân có ít đến đâu, dù trình độ phát triển kinh tế, xã hội thế nào thì từng dân tộc cũng đều có bản sắc văn hóa riêng; bản sắc đó góp phần làm nên sự phong phú, đa dạng trong tính thống nhất của nền văn hóa Việt Nam.

Tìm hiểu, tôn trọng những phong tục tập quán của các dân tộc thiểu số là trách nhiệm của cán bộ trong hệ thống chính trị nói chung, của cán bộ làm công tác ở vùng đồng bào dân tộc thiểu số nói riêng. Bài viết này xin trao đổi một số nội dung xung quanh vấn đề trên; hy vọng sẽ là những thông tin bổ ích cho nhiều cán bộ, nhất là những cán bộ trẻ mới làm, hoặc chuẩn bị làm công tác ở vùng đồng bào dân tộc thiểu số.

Thứ nhất, về tên gọi và một số thuật ngữ thường dùng trong công tác dân tộc: Trong thực tế còn gặp một số người khi viết, khi nói xác định tên dân tộc lại dùng tên do các dân tộc tự gọi, tên theo nhóm địa phương, hoặc tên gọi khác. Ví dụ: dân tộc Hoa gọi là dân tộc Xạ Phang, dân tộc Hán… dân tộc Chứt gọi là dân tộc Rục, dân tộc Mã Liềng, dân tộc Sách; dân tộc Dao gọi là dân tộc Mán; dân tộc Khơ Mú gọi là dân tộc Xá, dân tộc Chăm gọi là dân tộc Chàm… cách gọi trên dùng để nghiên cứu dân tộc. Trong công tác dân tộc gọi theo danh mục thành phần các dân tộc Việt Nam do nhà nước ban hành là đúng hơn cả. Theo số liệu thông kê, nước ta có 54 dân tộc trừ dân tộc Kinh chiếm đa số, dân số của 53 dân tộc còn lại chỉ chiếm tỷ lệ 13,8% của cả nước. Khi nói, khi viết là để chỉ chung cho các dân tộc (trừ dân tộc Kinh) là đúng và đã được ghi trong điều 5 Hiến pháp nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam.

Thứ hai, một số việc cụ thể cần lưu ý: Khi vào làng, vào bản, vào nhà dân nếu trên đường vào ở cổng bản hay cổng nhà thấy có cắm lá xanh hoặc cọc dấu thì không nên vào vì dân bản hoặc chủ nhà đang kiêng người lạ. Khi đã đến với dân bản thì không được tự ý vào khu rừng kiêng, rừng cấm, không làm mất vệ sinh nguồn nước sinh hoạt, không chặt cây khi thấy cây có dành dấu (X), không lấy măng, mộc nhĩ, lấy mật ong… khi đã có người đánh dấu, không bẻ mầm non đang mọc.

Khi vào nhà dân, nếu thấy dân ở nhà sàn mà nhà lại có hai cầu thang thì cần quan sát xem đi cầu thang nào; nếu đi cùng chủ nhà hoặc có cán bộ cơ sở đi cùng thì nên để cho chủ nhà hoặc cán bộ cơ sở lên trước (thông thường nhìn từ ngoài vào, cầu thang phía bên tay trái dành cho đàn ông và khách, cầu thang bên tay phải dành cho phụ nữ). Khi đã vào trong nhà nếu thấy trong nhà có hai bếp thì không nên đi thẳng một mạch từ đầu nhà vào bếp trong (bố trí 2 bếp, bếp ngoài đồng bào dành cho khách). Khi ngồi cạnh bếp lửa không dùng chân đẩy củi, không đút ngược cây củi vào bếp (ngược ở đây được hiểu là đút chiều ngọn của cây củi vào trước) vì đồng bào quan niệm làm như thế trong nhà sẽ có người đẻ ngược. Không nướng cơm đồ (xôi) vì nếu cơm đã đồ mà đem nướng đồng bào cho rằng năm đó sẽ xảy ra mất mùa. Khi ngồi cần chú ý không ngồi vào “cửa móng” (cửa sổ gian tiếp khách), nếu chủ nhà chưa mời không nên ngồi ngay vào đệm (thường dành cho bề trên và khách quý).

Khi ăn cơm nếu chủ nhà không mời thì không được ngồi ngang hàng với người già nhất trong mâm đồng thời tôn trọng sự sắp đặt vị trí ngồi của chủ nhà; không được gắp đầu gà, chân gà, gan gà (những thứ này thường để chung một đĩa với dụng ý để khách chứng giám lòng thành của chủ). Khi uống rượu nếu thấy trong mâm có 2 ly rượu (cốc, chén) để giữa chủ nhà và khách hoặc giữa chủ nhà và người già nhất thìkhông được uống 2 ly rượu này (đồng bào quan niệm đây là 2 ly rượu dâng lên tổ tiên). Khi có người mời, hoặc mời mọi người xung quanh mới uống, không nên cầm ly uống ngay. Đặc biệt để tỏ lòng mến khách những người trong mâm rượu dùng rất nhiều “lý” để chúc rượu nhau (chúc chung cả mâm, chúc riêng từng người, ly rượu làm quen, chúc sức khỏe…) trong trường hợp ấy không nên từ chối (uống được bao nhiêu do khả năng của mình) và nên chủ động chúc rượu lại chủ nhà và những người trong mâm rượu. Ngoài ra khi mời rượu không nên dùng từ “uống hết” mà chỉ nên dùng từ “uống cạn” (đồng bào quan niệm nếu dùng từ “uống hết” nghĩa là chủ và khách không còn tình cảm gì, không còn gì để uống), trong khi ăn uống không nên vừa ăn vừa nói quá to.

Khi đi ngủ không nằm ngủ dọc theo đòn nóc nhà (chỉ người chết mới nằm như vậy), không ngủ dậy quá muộn, không đắp ngược chăn. Khi tiếp xúc với cán bộ là người dân tộc thiểu số ở cơ sở, tiếp xúc với dân bản không nói quá to với cử chỉ gay gắt, đặc biệt không dùng ngón tay trỏ của mình chỉ vào mặt người đang đối thoại với mình. Không tranh cãi với người già, phụ nữ và trẻ em, không xoa đầu trẻ nhỏ, không nên biểu lộ tình cảm thái quá đối với phụ nữ đã có chồng, con gái đã có người yêu, phụ nữ goá chồng. Khi nói chuyện với bà con dân bản cần tránh dùng từ kiêng, từ có tính miệt thị dân tộc như: gọi người đàn ông có tuổi là “bố bản”, dùng từ “xá” (có nghĩa là rách rưới) chỉ dân tộc Khơ Mú, “Thổ mừ” chỉ dân tộc Thổ… hoặc có khi nói những từ chung chung như “ông Mông”, “ông Thái”, “ông Dao”…

Ngoài ra một số dân tộc thiểu số có những điều “kiêng”, “cấm” trong các nghi lễ như chọn đất làm nương rẫy, chọn ngày dựng nhà, chọn ngày cưới hỏi vợ, chồng; kiêng cữ khi phụ nữ mới sinh. Những nghi lễ khi trong nhà có người chết; những nghi lễ trong việc cúng bản, cúng mường; gặp những trường hợp này tốt nhất là chúng ta lắng nghe, quan sát không nên vội vàng phê phán chê bai như: mất vệ sinh, lạc hậu, tốn kém; mê tín dị đoan…

Cán bộ công tác ở vùng đồng bào dân tộc thiểu số là những thế hệ kế tiếp nhau được bổ sung trong quá trình phát triển của đất nước. Những nội dung nêu trên mặc dù chỉ ở mức độ chung nhất nhưng sẽ là cần thiết cho cán bộ mới làm công tác dân tộc tham khảo góp phần tăng cường kỹ năng công tác ở vùng đồng bào dân tộc thiểu số.

Đỗ Trọng Cố

Advertisements

Single Post Navigation

Gửi bình luận

Mời bạn điền thông tin vào ô dưới đây hoặc kích vào một biểu tượng để đăng nhập:

WordPress.com Logo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản WordPress.com Log Out / Thay đổi )

Twitter picture

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Twitter Log Out / Thay đổi )

Facebook photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Facebook Log Out / Thay đổi )

Google+ photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Google+ Log Out / Thay đổi )

Connecting to %s

%d bloggers like this: